Nghị quyết 57: Từ đề xuất nhiệm vụ đến phát triển sản phẩm công nghệ trong y tế

Trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, yêu cầu đối với nhiệm vụ khoa học, công nghệ đang được đặt theo hướng xác định rõ bài toán cần giải quyết, công nghệ lõi, sản phẩm đầu ra, địa chỉ ứng dụng và nguồn lực thực hiện. Với lĩnh vực y tế, cách tiếp cận này mở ra yêu cầu phát triển sản phẩm công nghệ, trong đó có sản phẩm công nghệ số, sát hơn với nhu cầu thực tiễn.

Từ “đề xuất đề tài” đến “đề xuất sản phẩm”

Ngày 24/9/2026, tại Hội nghị triển khai Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy “đề xuất đề tài” sang phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược có đầu ra cụ thể, làm chủ công nghệ lõi và xác định rõ địa chỉ ứng dụng. Bộ Khoa học và Công nghệ hiện tiếp nhận đề xuất nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình quốc gia đặc biệt đến trước ngày 30/9/2026.

Hội nghị triển khai Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược 

Cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa với những nhiệm vụ công nghệ chiến lược có yêu cầu cao về nguồn lực, thời gian nghiên cứu dài và cần sự tham gia của nhiều chủ thể. Việc doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và đơn vị sử dụng tham gia từ giai đoạn xây dựng nhiệm vụ giúp xác định sớm hơn yêu cầu kỹ thuật, khả năng ứng dụng và phương án phát triển sản phẩm.

Từ bài toán y tế đến sản phẩm công nghệ

Đối với các nhiệm vụ công nghệ sinh học, y sinh tiên tiến, sản phẩm có thể là vắc xin thế hệ mới, liệu pháp tế bào hoặc hệ thống sản xuất sản phẩm y tế cá thể hóa ứng dụng công nghệ in 3D. Đây cũng là những sản phẩm đã được xác định trong Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược và được Bộ Y tế cụ thể hóa thành các nhiệm vụ tại Quyết định số 1710/QĐ-BYT ngày 12/6/2026.

Với công nghệ số, việc xác định bài toán cũng cần đi cùng yêu cầu về sản phẩm. Những nhu cầu liên quan đến khai thác dữ liệu, hỗ trợ chuyên môn, quản lý và điều hành có thể đặt ra yêu cầu nghiên cứu, phát triển các nền tảng, hệ thống hoặc giải pháp ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, bản sao số và các công nghệ số khác.

Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đã xác định nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược gồm mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, trợ lý ảo, AI chuyên ngành, nền tảng bản sao số, nền tảng điện toán đám mây và các sản phẩm khác. Đây là cơ sở để các lĩnh vực, trong đó có y tế, nghiên cứu khả năng ứng dụng phù hợp với từng bài toán và điều kiện thực tế.

Sản phẩm số phải gắn với dữ liệu và người sử dụng

Đối với sản phẩm công nghệ số trong y tế, yêu cầu về dữ liệu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một sản phẩm AI hoặc nền tảng số không chỉ cần công nghệ mà còn phải xác định dữ liệu đầu vào, chất lượng dữ liệu, yêu cầu kết nối, khả năng liên thông, bảo đảm an toàn và phương thức đánh giá kết quả.

Cùng với đó là xác định rõ người sử dụng và quy trình mà sản phẩm tham gia. Một giải pháp được phát triển cho cơ quan quản lý sẽ có yêu cầu khác với giải pháp hỗ trợ cơ sở y tế, cán bộ y tế hoặc cung cấp dịch vụ cho người dân. Vì vậy, ngay từ khi xây dựng nhiệm vụ cần xác định địa chỉ ứng dụng, yêu cầu kỹ thuật và tiêu chí đánh giá sản phẩm.

Đây là điểm quan trọng để phân biệt giữa một kết quả nghiên cứu với một sản phẩm công nghệ có khả năng đưa vào sử dụng. Công nghệ cần được tiếp tục hoàn thiện qua thử nghiệm, đánh giá, chuẩn hóa, tích hợp và chuyển giao trước khi có thể tạo ra giá trị ổn định trong thực tế.

Gắn sản phẩm với nguồn lực và khả năng ứng dụng

Để một nhiệm vụ công nghệ chiến lược đi đến sản phẩm, các yêu cầu về công nghệ lõi, nhân lực, tài chính, dữ liệu, sở hữu trí tuệ, thử nghiệm và tiếp nhận sản phẩm cần được tính toán ngay từ đầu. Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đặt yêu cầu tháo gỡ các vướng mắc về quy trình, cơ chế tài chính, sở hữu trí tuệ, nguồn lực đối ứng, thử nghiệm và tiếp nhận sản phẩm trong quá trình triển khai chương trình.

Với y tế, điều này đòi hỏi sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và đơn vị trực tiếp sử dụng sản phẩm. Mỗi chủ thể cần tham gia ở phần việc phù hợp, từ xác định bài toán, nghiên cứu công nghệ đến thử nghiệm, đánh giá, hoàn thiện và tổ chức ứng dụng.

Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, Trung tâm Thông tin Y tế Quốc gia tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến thông tin, dữ liệu và chuyển đổi số y tế; đồng thời duy trì, sản xuất và đăng tải thông tin về các nhiệm vụ, kết quả triển khai, góp phần thông tin về quá trình cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW trong lĩnh vực y tế.

Từ “đề xuất nhiệm vụ” đến “phát triển sản phẩm” vì vậy không chỉ là thay đổi cách gọi, mà là thay đổi cách xác định mục tiêu và tổ chức thực hiện: bắt đầu từ bài toán thực tế, lựa chọn công nghệ phù hợp, xác định sản phẩm và người sử dụng, bố trí nguồn lực, rồi kiểm chứng khả năng ứng dụng. Đây là cơ sở để các nhiệm vụ khoa học, công nghệ từng bước chuyển hóa thành kết quả cụ thể phục vụ phát triển ngành Y tế.

Theo https://nhic.vn/

Lượt xem: 11

Bài viết liên quan:

Bộ Y tế: Không sử dụng khám chữa bệnh từ xa để thay thế, trì hoãn cấp cứu

TRUNG TÂM Y TẾ KHU VỰC LỤC YÊN TRIỂN KHAI HỌC TẬP KHÓA HỌC “ĐẠO ĐỨC AI” TRÊN NỀN TẢNG “BÌNH DÂN HỌC VỤ SỐ”

Chuyển đổi số ngành Y tế: Lấy người dân làm trung tâm, dữ liệu làm nền tảng, công nghệ làm động lực

Thúc đẩy quá trình chuyển đổi số quốc gia, hướng đến hình thành quốc gia số

Bộ trưởng Vũ Hải Quân: Mỗi khoản đầu tư cho chuyển đổi số phải tạo ra giá trị đo đếm được